Mùa hè năm 1964, ở Ginza, khu phố sang xịn mịn nhất Tokyo, cứ chiều đến lại có một đám thanh niên tụ tập trước các cửa hiệu. Phần lớn trong đám này là học sinh, sáng mặc đồng phục đi học, rồi lẻn vào nhà vệ sinh chật chội của mấy quán cafe để “biến hình”: sơ mi cổ button-down vải oxford, quần chinos ống cropped cao, blazer khuy đồng, giày penny loafers.




Người ta gọi họ là Miyuki-zoku, “bộ tộc phố Miyuki”, theo tên con phố họ hay đứng. Báo chí thời đó coi cộng đồng này như một thứ tệ nạn, họ đang lan truyền một cách ăn mặc kệch cỡm, một kiểu văn hóa sai quy chuẩn. Đúng năm ấy, Nhật Bản chuẩn bị đăng cai Olympic Tokyo vào tháng 10, cả thành phố dọn dẹp sạch sẽ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng để đón khách nước ngoài, nên đám trẻ lảng vảng ngoài phố trong mấy bộ đồ Mỹ kỳ quặc trở thành cái gai trong mắt nhà chức trách. Ngày 19/9, cảnh sát ập vào Ginza, hốt đi khoảng 200 người đang xúng xính cười nói trong những bộ đồ được cho là dị biệt.
Điều buồn cười nhất chính là những outfit mà đám Miyuki-zoku mặc, gần như cả nước Nhật về sau đều mặc theo. Và người gieo nó vào đầu họ không phải một thần tượng Mỹ nào cả, mà là một ông người Nhật tên Kensuke Ishizu.
Một người dạy cả nước mặc Ivy
Ishizu (1911-2005) thành lập hãng VAN Jacket năm 1951. Năm 1959 ông sang Mỹ, ghé thăm Đại học Princeton, và mê mệt kiểu ăn mặc của sinh viên Ivy League: cà vạt thắt lỏng, sơ mi trắng cổ cài nút, áo khoác vắt hờ trên vai. Cái đẹp ở đây nằm ở sự hờ hững, như thể chẳng ai cố gắng gì cả.
Trớ trêu là để mang cái “hờ hững” đó về Nhật, Ishizu phải làm điều ngược hẳn: ông biến nó thành quy tắc. Sinh viên Mỹ mặc Ivy như một cách phá luật, lè phè, chẳng có công thức nào. Còn ở Nhật, Ivy được dạy lại thành một bộ nguyên tắc chặt chẽ, qua tạp chí Men’s Club, qua các buổi nói chuyện, qua chính khái niệm “TPO” (Time, Place, Occasion, mặc gì cho đúng thời điểm, địa điểm và dịp) mà VAN phổ biến.




Năm 1965, nhóm của VAN xuất bản Take Ivy, cuốn sách ảnh do Teruyoshi Hayashida chụp, ghi lại sinh viên các trường Ivy League mặc gì khi lên lớp. Người Mỹ thời đó gần như chẳng ai nghĩ đến chuyện ghi chép tỉ mỉ trang phục thường ngày của chính mình. Người Nhật thì làm, và Take Ivy sau này thành kinh thánh của những người đam mê menswear khắp thế giới, mãi đến năm 2010 mới được in lại bằng tiếng Anh ở chính nước Mỹ.
Quay lại đám Miyuki-zoku. Khi nhà chức trách muốn dẹp họ trước thềm Olympic, họ tìm đến ai? Tìm đến chính Ishizu. Ông tổ chức hẳn một buổi “đại hội Ivy” ở hội trường Yamaha, dự tính cho 300 người, ai ngờ tận 2.000 người kéo tới. Ishizu lên phát biểu, khuyên đám trẻ đừng tụ tập lêu lổng ngoài phố nữa. Tức là cái người tạo ra trào lưu, cuối cùng lại được nhờ đi dập chính trào lưu đó.
Cứu một phong cách, theo nghĩa lưu trữ nó
Toàn bộ câu chuyện này được nhà nghiên cứu W. David Marx kể lại trong cuốn Ametora: How Japan Saved American Style (2015). “Ametora” chính là cách người Nhật rút gọn cụm “American traditional” (amerikan toradishonaru), theo thói quen biến mọi từ ngoại lai dài dòng thành một từ bốn âm tiết.





Còn chữ “saved”, cứu, theo Marx có một nghĩa đặc biệt: cứu theo kiểu lưu trữ. Suốt bảy mươi năm, ngành thời trang Nhật đã cần mẫn ghi chép, phục dựng và bảo tồn gần như toàn bộ kho phong cách Mỹ, từ Ivy, đồ lao động (workwear), đồ outdoor, đồ rock & roll, cho đến quân phục. Trong khi chính người Mỹ thường để những thứ đó tự rơi vào quên lãng.
Một cái áo thun chết đi sống lại
Ví dụ điển hình nhất cho cái nghĩa “lưu trữ” đó, với tôi, là Velva Sheen.
Đây là một hãng t-shirt Mỹ, ra đời năm 1932 ở Cincinnati, bang Ohio. Suốt thế kỷ 20 họ may t-shirt, sweatshirt cho các trường đại học, đội thể thao và cả Thủy quân lục chiến Mỹ. Rồi đến cuối thập niên 80, làn sóng đẩy sản xuất sang châu Á với giá rẻ ập tới khiến Velva Sheen kiệt quệ, đóng cửa vào giữa thập niên 90. Một mảnh nhỏ của lịch sử ăn mặc Mỹ coi như đã chết.
Đến năm 2009, một công ty Nhật tên Topwin mua lại cái tên đó và dựng nó dậy. Họ chép lại nguyên cái nhãn cũ, nguyên bao bì, giữ luôn cách dệt nguyên bản: áo được dệt thành một ống liền trên những cỗ máy cũ, không có đường may ở hai bên sườn. Mấy cỗ máy ấy có một giới hạn buồn cười, mỗi máy chỉ dệt được đúng một size, muốn size khác phải có máy khác. Chẳng ai làm ăn kiểu đó để bán cho nhanh, người ta giữ nó vì tin rằng cái áo phải được làm đúng theo cách nó từng được làm.
Một brand nhẽ ra đã bị khai tử trên đất Mỹ, rồi được người Nhật dựng dậy, khôi phục hồn cốt rồi giữ cho sống tiếp, thậm chí là sống tốt đến tận ngày hôm nay. Đó chính xác là cái Marx gọi là “save”.
Từ sao chép đến vượt mặt
Tôi chưa bao giờ thuộc phe thần thánh hóa người Nhật, kiểu cái gì của họ cũng nghiễm nhiên là đỉnh. Đâu cũng có this có that, có những mảng người Nhật làm cũng thường thôi.
Nhưng riêng denim thì tôi xin ngả mũ. Ai cũng biết quần jeans nói riêng và chất liệu denim nói chung là niềm tự hào của người Mỹ với phát minh của Levi Strauss từ thế kỷ 18. Nhưng trong lĩnh vực này, đây là chỗ mà sự tỉ mỉ đến mức cực đoan của người Nhật chuyển hóa thành một hệ quy chuẩn hoàn mỹ từ hình thức cho đến chất lượng.

Ở Kojima, một quận cảng nhỏ thuộc tỉnh Okayama, vốn có ngành dệt may lâu đời. Đầu thập niên 1970, hãng Big John đề nghị nhà máy Kurabo dệt thử denim ngay tại Nhật. Kurabo se được sợi nhưng không nhuộm được, nên phải nhờ tới Kaihara và Sakamoto, hai cơ sở vùng Hiroshima vốn có truyền thống nhuộm chàm. Năm 1973, Big John ra mắt cặp jeans dệt hoàn toàn từ denim nội địa, được coi là chiếc quần jeans “made in Japan” thật sự đầu tiên.

Từ đó Kojima thành kinh đô denim của Nhật. Đến thập niên 1990, nhóm “Osaka Five” (Studio D’Artisan, Denime, Evisu, Full Count, Warehouse) đẩy nghệ thuật phục dựng jeans cổ lên một tầm mới: họ lùng lại những cỗ máy dệt thoi cũ kỹ mà chính nước Mỹ đã vứt đi vì chậm và kém hiệu quả, để dệt ra loại vải selvedge truyền thống. Để làm ra một chiếc quần Mỹ cho thật đúng, người Nhật phải đi mua lại đúng những cỗ máy mà người Mỹ đã bỏ.
Kết quả là denim Nhật giờ được giới sành đồ coi là loại tốt bậc nhất thế giới, và được xuất ngược về chính nước Mỹ.



Kapital, hãng ở ngay Kojima, đẩy chuyện này đi xa hơn một bước. Cha con nhà Hirata (Toshikiyo lập hãng năm 1985, con trai Kiro tiếp quản phần sáng tạo) lấy form quần áo lao động Mỹ rồi đắp lên đó những kỹ thuật rất Nhật: boro (chắp vá nhiều lớp vải cũ) và sashiko (lối khâu gia cố của nông dân, ngư dân Nhật xưa). Một chiếc áo workwear Mỹ, vá theo lối nhà nông Nhật, rồi bán lại cho một dân chơi sành điệu nào đó đang vô cùng háo hức để sở hữu nó ở New York. Quả là một vòng tròn văn hóa thú vị!
Nếu bạn muốn đào sâu hơn, cuốn Ametora của W. David Marx là chỗ bắt đầu tốt nhất. Và hãy nhìn vào tủ đồ của chính mình: cái quần jeans, cái t-shirt trơn, cái sơ mi oxford button-down, v.v… Rất có thể thứ giữ cho chúng còn “đúng” đến tận hôm nay lại là một tay người Nhật nào đó.
Follow Mạng xã hội của The Undercut:

Gửi phản hồi